00:00 Số lượt truy cập: 3341444

Hòa Bình: Vì môi trường xanh- sạch-đẹp 

Được đăng : 03/11/2016

 

Chính vì vậy giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là mối quan tâm hàng đầu trong công tác lập kế hoạch và chỉ đạo của đảng bộ, chính quyền và các ngành, các cấp tỉnh Hoà Bình trong những năm vừa qua cũng như các giai đoạn tiếp theo. Đồng thời không chỉ có tập trung phát triển kinh tế, xây dựng các khu công nghiệp, dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn kinh tế- xã hội mà còn luôn chú trọng tới sự hoàn thiện về môi trường sinh thái, môi trường xã hội một cách bền vững sau này.

 

Năm 2003, Luật bảo vệ tài nguyên môi trường Việt Nam ra đời kèm theo đó là một số nghị định, hướng dẫn việc thực hiện Luật đối với tất cả các thành phần xã hội và người dân, trong đó Luật bảo vệ môi trường có những qui định rất rõ ràng trong nông nghiệp, nông thôn. Đồng thời, ngày 27/ 10/ 1998, Thủ tướng Chính phủ có quyết định số 17 về việc “ban hành qui định trách nhiệm các Bộ, các cấp chính quyền trong việc tạo điều kiện để các cấp Hội Nông dân Việt Nam hoạt động có hiệu quả”. Sau đó Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Hoà Bình đã có các văn bản chỉ đạo các Sở, Ban, ngành, UBND các huyện, thành phố, xã phường, thị trấn trong tỉnh phối hợp với Hội Nông dân theo chức năng, nhiệm vụ của mình, chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện các hoạt động phối hợp hiệu quả.

 

Chỉ trong 2 năm 2003 - 2004 đã có 17 Sở, Ban, ngành trong tỉnh đã kí nghị quyết liên tịch với Hội Nông dân tỉnh Hoà Bình, trong đó Sở KHCN- MT, nay là Sở Tài nguyên môi trường tỉnh Hoà Bình kí nghị quyết liên tịch với Hội Nông dân tỉnh Hoà Bình và được thể hiện bằng các nội dung hoạt động cụ thể hàng năm như sau:

1- Tuyên truyền trên Đài phát thanh truyền hình tỉnh, huyện, thành phố toàn bộ Luật bảo vệ tài nguyên môi trường và các văn bản hướng dẫn Luật. Nội dung hoạt động Nghị quyết liên tịch giữa 2 cơ quan Hội Nông dân tỉnh và Sở Tài nguyên môi trường để cán bộ, hội viên nông dân biết và tổ chức thực hiện.

2- Xây dựng nguồn lực, kinh phí hàng năm để các cấp Hội Nông dân phối hợp với Sở Nông nghiệp, Trung tâm KNKL, chi cục BVTV, Trung tâm nước sạch VSMT tuyên truyền, hướng dẫn cán bộ, hội viên nông dân thực hiện giảm sử dụng phân bón hoá học, thuốc trừ sâu, thuốc bảo quản hoa quả, thực phẩm tươi sống. Đồng thời thực hiện mô hình gia đình nông dân: 1 chuồng (chuồng gia súc gia cầm), 3 hố (hố xí, hố rác, hố phân) đảm bảo vệ sinh gia đình và môi trường cộng đồng thôn xóm.

3- Vận động hội viên nông dân tham gia vay vốn ưu đãi Ngân hàng chính sách xã hội để xây dựng mô hình nước sạch sinh hoạt gia đình và vay vốn trồng và bảo vệ rừng, vừa đảm bảo bảo vệ tài nguyên môi trường, vừa tăng thu nhập từ rừng.

4- Tổ chức phát động phong trào thi đua: Hội viên nông dân tham gia xây dựng nông thôn mới với khẩu hiệu “Thu nhập cao, an toàn, sức khoẻ, bình đẳng, hạnh phúc”; “Đẹp làng, sạch xóm, rừng phủ xanh”.

5- Tổ chức các mô hình gia đình nông dân sáng. Hội nghị, hội thảo, hội thi, giao lưu sân khấu hoá nhằm trao đổi kiến thức kinh nghiệm về bảo vệ tài nguyên môi trường nông nghiệp, nông thôn.

6- Tập huấn nâng cao kiến thức cho cán bộ thực hiện Luật bảo vệ tài nguyên môi trường, năng lực quản lí, điều hành các hoạt động bảo vệ tài nguyên môi trường cho cộng đồng, xã hội.

7- Phối hợp kiểm tra, giám sát, tham mưu, đề xuất kiến nghị với Đảng, Nhà nước, cơ quan, Ban, ngành sửa đổi, bổ sung chính sách và thực thi chính sách đối với Luật bảo vệ tài nguyên môi trường.

 

Kết quả từ năm 2004 đến nay, các cấp Hội Nông dân tỉnh Hoà Bình đã thật sự vào cuộc, thể hiện rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Hội là chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho hội viên nông dân. Tính đến tháng 12/2007, toàn tỉnh Hoà Bình đã có 18.149 hộ hội viên nông dân đạt hộ SXKD giỏi, trong đó có 12.979 hộ đạt cấp xã, 3.574 hộ đạt cấp huyện, 1.596 hộ đạt cấp tỉnh. Tăng 405 hộ = 19,2% so với năm 2004. Mức thu nhập bình quân 3,2 triệu đồng/người/năm (năm 2003) tăng lên 6,2 triệu đồng/người/năm (năm 2007); 72% hộ hội viên nông dân đạt gia đình văn hoá; 58% xóm, bản đạt tiêu chuẩn xóm, bản văn hoá.

 

Các cấp Hội Nông dân trong tỉnh Hoà Bình đã phối hợp với Trung tâm KNKL, chi cục BVTV tỉnh, huyện, thành phố mở trên 2000 lớp IPM trên cây trồng, vật nuôi với hơn 30.000 lượt hội viên nông dân tham gia biết cách xử lí giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc bảo quản, chế biến thực phẩm nông, lâm, ngư nghiệp tránh hậu quả cho môi trường và sức khoẻ của người dân, cộng đồng. Phối hợp với Uỷ ban kiểm tra, Thanh tra tỉnh, Sở Tài nguyên môi trường, Sở Tư pháp tổ chức hơn 2000 buổi trợ giúp pháp lí cho hơn 80.000 lượt hội viên tham gia.

 

Giải quyết 397 đơn tố cáo và 820 vụ hoà giải liên quan đến bảo vệ tài nguyên môi trường. Xây dựng và thành lập 49.000 tổ, nhóm vay vốn tín chấp từ Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT và Ngân hàng CSXH để đầu tư phát triển kinh tế và xây dựng môi trường vệ sinh gia đình như: giếng nước sạch, bể nước sạch, bể Biosga, hố xí, hố rác, hố phân, chuồng trại chăn nuôi gia súc gia cầm hợp vệ sinh. Tỉnh Hội và các cấp Hội phối hợp, hợp tác với tổ chức OXFAM đoàn kết Bỉ, tổ chức ADDA Đan Mạch, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam và các tổ chức khác xây dựng 53 mô hình sản xuất nông, lâm kết hợp, mô hình trồng cây trên đất dốc, mô hình chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm hợp vệ sinh, mô hình gia đình 1 chuồng, 3 hố đảm bảo vệ sinh tăng thu nhập cho hội viên nông dân, tổ chức 347 đêm giao lưu sân khấu hoá và mỗi năm tổ chức một cuộc thi “Nông dân với tài nguyên môi trường” từ xã lên tỉnh thu hút trên 80.000 lượt hội viên nông dân tham gia.

 

Với hàng nghìn tiểu phẩm sân khấu, thơ ca, hò, vè được cán bộ, hội viên sáng tác, tự biên tự diễn, phản ánh thực trạng và các giải pháp bảo vệ tài nguyên môi trường nông nghiệp, nông dân, nông thôn được các cơ quan Ban, ngành Trung ương, địa phương ghi nhận và đánh giá cao trong công tác tuyên truyền bảo vệ tài nguyên môi trường.

 

Bên cạnh những kết quả Hội đã đạt được, chúng tôi thấy còn một số vấn đề cần được Đảng, Nhà nước địa phương hết sức quan tâm:

 

1- Hội Nông dân là một tổ chức chính trị - xã hội, có hệ thống 4 cấp (Trung ương, tỉnh, huyện, xã), địa bàn hoạt động rộng tới từng thôn, xóm, bản làng, vùng sâu, vùng xa. Đối tượng tham gia trực tiếp của Hội là nông dân với trình độ và sự tiếp cận thông tin còn hạn chế. Vì vậy, cần có sự đầu tư hơn nữa về nguồn lực (con người và tài chính) để hệ thống các cấp Hội đủ năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu tuyên truyền, hướng dẫn hội viên nông dân tham gia tốt Luật bảo vệ tài nguyên môi trường.

2- Lợi ích đôi khi thúc đẩy vi phạm xẩy ra không đáng có, nhất là nông dân không có điều kiện tiếp cận với thông tin mới. Vì vậy, Bộ Tài nguyên & môi trường, Bộ Nông nghiệp & PTNT, Hội Nông dân Việt Nam cần thiết lập một hệ thống khuyến cáo cho nông dân áp dụng và sử dụng các sản phẩm từ ngành công nghiệp để hạn chế rủi ro liên quan đến tài nguyên môi trường.

3- Hoàn thiện chính sách dồn điền, đổi thửa để khuyến khích nông dân qui hoạch sản xuất, chế biến bảo quản theo hướng công nghiệp hoá gắn với bảo vệ tài nguyên môi trường./.