Quốc hội vừa chính thức biểu quyết thông qua Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035. Đây là một quyết sách quan trọng, mở ra giai đoạn phát triển mang tính chiến lược với tổng nguồn vốn ngân sách nhà nước bố trí cho giai đoạn 5 năm đầu (2026-2030) lên tới 423.000 tỷ đồng.

423.000 tỷ đồng thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030
Theo Nghị quyết đã được thông qua, Quốc hội xác định tổng nguồn vốn ngân sách nhà nước dành cho chương trình trong giai đoạn trung hạn 2026-2030 là khoảng 423.000 tỷ đồng. Cơ cấu nguồn vốn được phân bổ cụ thể nhằm đảm bảo sự cân đối giữa trung ương và địa phương, tạo đà cho các mục tiêu an sinh xã hội lớn. Cụ thể, nguồn vốn từ ngân sách trung ương đóng vai trò chủ đạo với
100.000 tỷ đồng; nguồn vốn ngân sách địa phương đối ứng là 300.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó, nguồn vốn tín dụng chính sách (có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước) cũng được bố trí ở mức 23.000 tỷ đồng để hỗ trợ trực tiếp cho các đối tượng thụ hưởng.
Không chỉ dừng lại ở con số cố định, trong quá trình điều hành thực tế, Chính phủ sẽ tiếp tục cân đối nguồn ngân sách trung ương, bao gồm cả các nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội, để ưu tiên hỗ trợ thêm cho chương trình phù hợp với điều kiện thực tiễn phát sinh. Điều này thể hiện sự cam kết mạnh mẽ và linh hoạt của Nhà nước trong việc đảm bảo các chương trình mục tiêu quốc gia không bị thiếu hụt nguồn lực.
Một trong những điểm nghẽn lớn nhất của các giai đoạn trước là áp lực giải ngân và sự gián đoạn nguồn vốn giữa các kỳ kế hoạch. Để giải quyết triệt để vấn đề này và đảm bảo dòng vốn được liền mạch, Dự thảo Nghị quyết đã bổ sung các cơ chế đặc thù mang tính đột phá.
Theo đó, Quốc hội cho phép chuyển nguồn vốn của giai đoạn 2021-2025 sang năm 2026 để tiếp tục thực hiện. Cụ thể hơn, đối với vốn ngân sách nhà nước năm 2025 (bao gồm cả phần vốn từ các năm 2021-2024 đã được chuyển nguồn sang năm 2025) của cả 3 chương trình mục tiêu quốc gia, nếu chưa giải ngân hết sẽ được phép kéo dài thời gian thực hiện và giải ngân đến hết ngày 31/12/2026.
Sự linh hoạt còn được thể hiện qua quyền hạn trao cho các bộ, ngành và địa phương. Các đơn vị này được quyền quyết định điều chỉnh kinh phí từ các hoạt động đã hoàn thành nhiệm vụ chi sang các hoạt động khác cần vốn, miễn là đảm bảo không vượt tổng mức vốn và không làm thay đổi cơ cấu chi đầu tư/chi thường xuyên đã được giao. Đặc biệt, trong trường hợp không còn nhiệm vụ dở dang của giai đoạn 2021-2025, nguồn vốn còn dư được phép sử dụng để triển khai ngay các nhiệm vụ, dự án mới thuộc chương trình của giai đoạn 2026-2035. Cơ chế này được kỳ vọng sẽ xóa bỏ tư duy "chạy vốn" cuối kỳ và nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách.
Trước khi Nghị quyết được thông qua, vấn đề vốn đối ứng của địa phương là một chủ đề nóng trên nghị trường. Nhiều đại biểu Quốc hội bày tỏ lo ngại mức vốn đối ứng 400.000 tỷ đồng (theo dự thảo ban đầu) là quá sức đối với nhiều địa phương, gây khó khăn trong khâu thực hiện.
Lắng nghe và tiếp thu ý kiến này, Nghị quyết chính thức đã giao Thủ tướng Chính phủ quy định mức vốn đối ứng từ ngân sách địa phương phù hợp với khả năng cân đối của từng tỉnh, thành phố, thay vì áp một mức cứng nhắc. Quan trọng hơn, sẽ có cơ chế ưu đãi đặc biệt về vốn đối ứng cho các địa phương còn nhiều khó khăn.
Song song với việc giảm áp lực tài chính, tinh thần chủ đạo của giai đoạn tới là đẩy mạnh phân cấp và áp dụng cơ chế đặc thù. Chính phủ cam kết sẽ ban hành các cơ chế "đột phá" để tháo gỡ khó khăn từ thực tiễn cơ sở.
Mục tiêu cốt lõi của chương trình trong thập kỷ tới là xây dựng nông thôn mới hiện đại, giàu đẹp, giữ gìn bản sắc, bền vững, gắn kết chặt chẽ với đô thị và thích ứng với biến đổi khí hậu. Chương trình cũng nhấn mạnh vào việc phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và thực hiện giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bảo đảm bình đẳng giới và an sinh xã hội.
Các chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030 được Quốc hội đặt ra rất rõ ràng: Về thu nhập phấn đấu tăng thu nhập bình quân của người dân nông thôn năm 2030 gấp 2,5 đến 3 lần so với năm 2020. Riêng đối với người dân tộc thiểu số, phấn đấu mức thu nhập bình quân đạt bằng 1/2 mức bình quân chung của cả nước, nhằm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo.
Về giảm nghèo duy trì mức giảm tỷ lệ nghèo đa chiều của cả nước từ 1 đến 1,5%/năm. Đặc biệt, phấn đấu đưa tỷ lệ hộ nghèo đa chiều tại vùng dân tộc thiểu số và miền núi xuống dưới 10%.
Về nông thôn mới phấn đấu cả nước có khoảng 65% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; trong đó, khoảng 10% số xã đạt chuẩn được công nhận là xã nông thôn hiện đại. Đồng thời, phấn đấu có 5 tỉnh, thành phố được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.
Tầm nhìn xa hơn đến năm 2035, chương trình đặt mục tiêu tiếp tục duy trì đà giảm nghèo đa chiều từ 1 đến 1,5%/năm theo chuẩn nghèo mới của giai đoạn 2031-2035. Một mục tiêu quan trọng khác là phấn đấu giảm ít nhất 50% số lượng xã, thôn đặc biệt khó khăn trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, tạo ra sự thay đổi căn bản về diện mạo kinh tế - xã hội tại các khu vực "lõi" nghèo của cả nước.
Với nguồn lực lớn, cơ chế linh hoạt và sự phân cấp mạnh mẽ, Nghị quyết này được kỳ vọng sẽ tạo ra cú hích lớn, làm thay đổi diện mạo nông thôn và miền núi Việt Nam trong thập kỷ tới.
Thuỷ Trần