1. Môi trường nuôi Ếch thịt thường nuôi quanh bờ ao hay nuôi ở vườn. Diện tích nuôi ếch thịt thường lớn hơn diện tích nuôi ếch giống. Mật độc thả ếch thịt từ 40-60 con/m2. Song tùy theo môi trường nuôi chúng ta tăng hay giảm mật độ cho phù hợp.
Đối với động vật cái phải giữ sức khỏe, đảm bảo đẻ con khỏe mạnh, tránh để mất lần giao phối nhằm tăng số lứa đẻ trong năm. Tránh để cho con cái vô sinh, chậm sinh hoặc sẩy thai.
1. Vệ sinh cho gia cầm lớn - Chuồng trại: Trại nuôi gia cầm tập trung phải ở cách xa ít nhất 300m các trại chăn nuôi khác, khu nhà, bãi bùn lầy, đường cái đi. Trại phải có sân vận động diện tích gấp 10 lần diện tích chuồng nuôi (vịt, ngan, ngỗng phải có ao nước). Chuồng phải luôn luôn khô ráo, đủ ánh sáng (đảm bảo hệ số chiếu sáng – nhưng không có gió lùa). Cửa đi vào trại và vào khu chuồng phái có hố tiêu độc.
Nguyên lý bảo quản trứng gồm: -Ngăn ngừa sự xâm nhập của vi sinh vật vào trong trứng; -Chống bốc hơi mốc; -Chống mốc vỏ và hạn chế quá trình sinh học xảy ra trong trứng.
Tại cuộc thi khoa học kỹ thuật cấp quốc gia học sinh trung học năm học 2014 - 2015, khu vực phía Nam, do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức, học sinh Đỗ Hoàng Huy, lớp 12T1 đã đem vinh dự về cho Trường THPT Trương Vĩnh Ký, huyện Chợ Lách khi đạt giải Ba với Dự án “Chế biến thức ăn chăn nuôi heo rừng từ vỏ trái ca cao phế thải bằng phương pháp sinh học”.
Đặc điểm của vùng này là đất xấu, nghèo mùn, nghèo đạm và các chất dinh dưỡng khác, tỷ lệ cát thường chiếm 95%.
Bệnh viêm não của ngựa bao gồm: Bệnh viêm não Nhật Bản B, là một bệnh chung của lợn, ngựa và người, phân bố ở một số nước và lãnh thổ châu Á như Trung Quốc, Triều Tiên, Đài Loan, Nhật Bản, Thái Lan, Malaixia, Ấn Độ, Việt Nam, Lào, Campuchia... Bệnh viêm não tủy của ngựa Vênêxuêla cũng là một bệnh chung của người và ngựa ở một số nước Nam Mỹ như Vênêxuêla, Côlômbia, Pêru, Goatêmala, Êcuađo, Ônđurát, Mêhicô, Côxta Rica,...
Bệnh vi bào tử trùng Enterocytozoon hepatopenaei (EHP) là bệnh không có biểu hiện rõ ràng trong giai đoạn đầu thả nuôi với biểu hiện tôm chậm lớn hơn rất nhiều so với bình thường. Do bệnh này không gây chết tôm hàng loạt nên không được chú ý nhiều, nhưng vì tôm không lớn ở giai đoạn cuối nên sản lượng ao tôm bệnh giảm mạnh, dẫn đến thiệt hại lớn về kinh tế. Do đó, kiểm soát tốt bệnh vi bào tử trùng trong nuôi tôm nước lợ là việc làm cấp thiết góp phần làm nên vụ mùa thắng lợi cho người nuôi tôm.
Bệnh gây ra do vi khuẩn nhiệt thán Bacillus anthracis. 1. Hình thái Bacilus anthracis là loại trực khuẩn lớn, 2 đầu vuông kích thước 1 - 1,5´ 4 - 8mm. Vi khuẩn hiếu khí, không có lông, không di động, có hình thành nha bào và giáp mô. Bắt màu Gram dương.
1. Dịch tễ học - Động vật cảm nhiễm Động vật cảm nhiễm với virút lở mồm long móng là trâu, bò rồi đến lợn, cừu, dê và các động vật móng guốc chẵn khác. Tỷ lệ chết đối với động vật trưởng thành không cao, chiếm 1-5%, nhưng đối với động vật non chiếm tới 50 - 70%. Virút cũng mẫn cảm với động vật hoang dã thuộc bộ móng guốc chẵn như: lợn, nai, bò rừng, hoẵng, v.v.. Những động vật hoang dã ở châu Phi, châu Á và Nam Mỹ rất có ý nghĩa trong việc lây truyền bệnh. Động vật thí nghiệm cảm nhiễm là: chuột lang, chuột bạch và thỏ.