Thời gian qua, phong trào “Nông dân thi đua SXKD giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững” đã góp phần khơi dậy tinh thần đoàn kết, giúp nhau làm giàu và giảm nghèo của nông dân, khẳng định vai trò chủ nhân của phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới tại Thanh Hóa.

Cơ sở của chị chế biến các mặt hàng như: Tôm nõn, mực khô, sứa khô, moi, nước mắm theo phân khúc khách hàng
Để phong trào ngày càng phát huy hiệu quả, Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa tục chỉ đạo các cấp Hội tăng cường tuyên truyền, hỗ trợ nông dân phát triển SXKD. Tăng cường hoạt động hỗ trợ nông dân cả về phương thức sản xuất và định hướng ngành, nghề; hỗ trợ nông dân liên kết sản xuất thông qua việc hướng dẫn xây dựng các mô hình tổ hợp tác, HTX để sản xuất nông sản theo chuỗi giá trị.
Đồng thời, chủ động phối hợp với các ngành để tiếp thu, chuyển giao ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật cho nông dân phát triển sản xuất; đẩy mạnh liên kết giữa “4 nhà”; hướng dẫn nông dân liên kết, hợp tác theo các nhóm hộ sản xuất cùng một loại sản phẩm theo hướng sản xuất hàng hóa.
Bên cạnh đó, các cấp Hội còn hỗ trợ nông dân xúc tiến thương mại, tiêu thụ sản phẩm; tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý để nông dân hiểu và thực hiện theo pháp luật. Hoạt động hội hướng mạnh hơn nữa về cơ sở, gắn bó sâu sát, nắm chắc tình hình tâm tư và nguyện vọng của hội viên, nông dân, nhất là nông dân ở vùng sâu, biên giới, vùng đặc biệt khó khăn; giúp hội viên chủ động, tự tin hơn trong lao động, sản xuất, tổ chức cuộc sống, nhân rộng các điển hình, tạo sự lan tỏa và thu hút đông đảo hội viên, nông dân tham gia.
Từ phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi; đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững, tại địa phương, xuất hiện nhiều điển hình tiêu biểu. Điển hình như mô hình của gia đình chị Lê Thị Liễu ở tổ dân phố Đông Hải, phường Tĩnh Gia.
Chị Liễu hội viên nông dân sản xuất kinh doanh giỏi tổ dân phố Đông Hải, phường Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá, hiện là chủ một cơ sở chế biến hải sản, với tổng số lao động làm việc: 80 lao động (trong đó 10 lao động thường xuyên, 70 lao động thời vụ), với mức lương từ 8 đến 10 triệu đồng/tháng.
Tổng số vốn mô hình của chị đến nay đạt trên 20 tỷ đồng (gấp 10 lần vốn điều lệ khi thành lập vào năm 2013).
Đến tháng 8/2025 quy mô sản xuất mô hình gồm khu chế biến thủy hải sản và kho đông lạnh diện tích 200m, khu muối mắm 2.000m, khu trưng bày và giới thiệu sản phẩm 500m, khu dịch vụ ăn uống 500m; thị trường tiêu thụ trong nước và ngoài nước.
Lợi nhuận bình quân của mô hình đạt 2,4 tỷ đồng/năm (giai đoạn 2020 - 2025). Thu nhập bình quân đầu người trong gia đình: 50 triệu đồng/người/tháng.
Với những thành tích đó, chị đã đạt danh hiệu, giải thưởng như: Năm 2018 được cấp Giấy Chứng nhận An toàn thực phẩm FSSC 22000; 7 sản phẩm OCOP.
Chị Liễu sinh ra ở vùng duyên hải Bắc Trung bộ có bờ biển trải dài, nguồn lợi thủy sản phong phú. Đời sống ngư dân nơi đây gắn liền với nuôi trồng, đánh bắt và chế biến hải sản.
Tuy nhiên là một người nông dân, gia đình chị Liễu đã gặp nhiều khó khăn khi khởi nghiệp như: Vốn ít; kinh nghiệm sản xuất, chế biến còn non nớt; chưa tiếp cận thị trường tiêu thụ. Những năm 2000, nghề chế biến hải sản quê tôi chủ yếu dựa trên phương pháp thủ công truyền thống.
Dù sản lượng làm ra không nhiều, nhưng tiêu thụ vẫn rất khó khăn. Giai đoạn này, các loại nước mắm công nghiệp bắt đầu xuất hiện với giá rẻ, mẫu mã bắt mắt. Thời điểm này, gia đình chị mở 1 của hàng nhỏ bán đồ khô và các loại mắm.
Năm 2003, khi ngư dân nơi đây trúng đậm mùa moi. Chị thu mua của các hộ đi biển về nhập cho đại lý kiếm chút lời lãi.
Có hôm thuyền về nhiều, chị mua được cả mấy tạ, mải mê cho đến tận khuya. Lúc nhìn lại thấy còn cả tạ cá cơm, moi tươi ngon, song trời thì tối và cơn mưa trái mùa ập đến.
Đem nhập thì muộn, để lại thì hư hỏng lỗ vốn. Bằng kinh nghiệm gia đình, chị đã để lại ủ mắm. Từ đó, mỗi tuần, tôi đều để lại làm 1 chum, ủ nào là mắm chua, mắm tôm, nước mắm... Tuy nhiên đồng vốn eo hẹp đã không cho phép gia đình tôi lưu hàng lâu như các gia đình khác, để bán ở cửa hàng thì không biết đến bao giờ mới hết. Cuối cùng, quyết định: Đi bán dạo, chỉ nhận thanh toán tiền khi khách hàng đã sử dụng và hài lòng.
Kể từ đó, khi những mẻ mắm chua, mắm tôm, nước mắm thành phẩm “chín”, ra lò chị đạp xe khắp các vùng quê trong tỉnh để chào bán. Địa điểm là trực tiếp đến các hộ dân, hoặc gửi lại tại các cửa hàng tạp hóa nhờ họ bán giúp. Đây là cách tiếp cận thị trường mà chị cho là hiệu quả nhất.
Theo cách này, dần chị đã chinh phục được đa số khách hàng dù họ chỉ dùng một lần. Thị trường tiêu thụ không ngừng được mở rộng, chị đã có chỗ đứng tương đối ổn định trong làng chế biến thủy hải sản tỉnh nhà.
Quá trình nỗ lực, cố gắng không ngừng nghỉ với tinh thần lao động nghiêm túc, đến nay chị đã 7 sản phẩm được chứng nhận là sản phẩm OCOP bao gồm: Cá cơm khô Dũng Liễu; mực khô Dũng Liễu; nước mắm cốt cá cơm Dũng Liễu; mọi khô Dũng Liễu; sứa khô Dũng Liễu; mắm tôm Dũng Liễu; mắm tép Dũng Liễu. Gia đình tôi hàng năm đều hoàn thành nghĩa vụ thuế với nhà nước và có trách nhiệm với tổ dân phố, cộng đồng và địa phương.
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường, với phương châm lấy ngắn nuôi dài, gia đình chị vừa làm vừa tích lũy và lấy số vốn tích lũy được, kết hợp vay thêm vốn ngân hàng để đầu tư thêm trang thiết bị hiện đại như máy sấy hải sản, kho đông lạnh, bể ngâm ủ chế biến các loại mắm, đầu tư chuyên sâu vào sản xuất chế biến các mặt hàng như: Tôm nõn, mực khô, sứa khô, moi, nước mắm, mắm tôm, cá khô các loại đa dạng, từ chất lượng bình dân đến chất lượng cao cấp theo phân khúc khách hàng.
Chị đặc biệt chú trọng đến hệ thống phân phối bán lẻ trong và ngoài tỉnh, chuyển đổi hướng kinh doanh tập trung cho khâu chế biến hải sản; đẩy mạnh quảng bá trên sàn thương mại điện tử, tiêu thụ trực tuyến qua các kênh online, Facebook... đồng thời kết nối với các kênh phân phối trong và ngoài tỉnh như BIC, Coopmark, các siêu thị bán lẻ thực phẩm sạch.
Từ năm 2018 đến năm 2025, chị đã đầu tư nghiên cứu để nâng cao chất lượng sản phẩm, trong đó, đầu tư trên 2 tỷ đồng để mua các máy mọc thiết bị chiết rót đóng chai, đóng gói; nghiên cứu cải tiến bao bì, mẫu mã, vỏ chai thủy tinh; xây dựng xưởng chiết đóng chai, đóng gói riêng biệt, tách khỏi khu ngâm ủ.
Ngoài ra, chị áp dụng hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát tới hạn (HACCP). Năm 2018 gia đình chị được cấp chứng nhận an toàn thực phẩm FSSC 22000. Đây là bước đột phá trong khâu quản lý chất lượng sản phẩm đảm bảo an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế.
Về công tác hỗ trợ hội viên, chị đã giúp vốn và tạo điều kiện cho 50 hộ gia đình khác trong thôn, trong xã với tổng số vốn đã đầu tư không thu lãi trên 400 triệu đồng để sắm ngư lưới cụ đánh bắt hải sản tạo việc làm cho 50-60 lao động theo thời vụ, thu nhập bình quân đạt 200.000đ/ngày/người. Gia đình chị cũng đã tham gia các hoạt động từ thiện xã hội, các hoạt động do địa phương và các tổ chức hội phát động từ năm 2020 đến nay, bình quân mỗi năm từ 100 - 150 triệu đồng.
Để có được những thành tích trên, ngoài việc bản thân không ngừng học hỏi, cố gắng còn có sự quan tâm, giúp đỡ của cấp ủy, chính quyền tạo điều kiện thuận lợi cho thuê đất lâu dài để gia đình mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh, các cơ chế ưu đãi về thuế đối với lĩnh vực sản xuất, chế biến, kinh doanh. Ở lĩnh vực nào tôi cũng đều lao động, làm việc một cách nghiêm túc, trách nhiệm.
Chị luôn nhớ lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh”. Vì vậy chị nỗ lực cố gắng trong bất cứ hoàn cảnh nào, muốn đóng góp xây dựng tổ chức hội vững mạnh, xây dựng quê hương đất nước tươi đẹp, trước hết phải xây dựng và phát triển kinh tế gia đình bền vững.
Những suy nghĩ tích cực đó là động lực để chị phấn đấu. Đi lên từ người bán nước mắm dạo, chị đã nỗ lực để trở thành hội viên nông dân tiêu biểu, tạo việc làm cho nhiều người và đóng góp tích cực cho xã hội như hôm nay.
Thu Thuỷ