00:00 Số lượt truy cập: 966434

Một số kết quả thực hiện Chương trình phối hợp hoạt động giữa Hội Nông dân tỉnh Gia Lai với Sở Khoa học và công nghệ tỉnh giai đoạn 2016 – 2020 

Được đăng : 01/07/2020

 

Tỉnh Gia Lai nằm ở phía Bắc khu vực Tây Nguyên, có diện tích 15.510,99 km2, với 90 km đường biên giới giáp tỉnh Rattanakiri, Vương quốc Campuchia; đất sản xuất nông nghiệp 801.532,92 ha; dân số trên 1,4 triệu người, gồm 34 dân tộc sinh sống, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 44,75%, chủ yếu là dân tộc JraiBahnar; nông dân chiếm 69,91% dân số; tỷ lệ lao động ở khu vực nông thôn chiếm 70,9% lực lượng lao động xã hội; có 17 đơn vị hành chính cấp huyện (14 huyện, 02 thị xã và 01 thành phố), 220 đơn vị hành chính cấp xã (182 xã, 24 phường, 14 thị trấn, trong đó có 61 xã đặc biệt khó khăn). Đất đai và khí hậu phù hợp để phát triển nhiều loại cây trồng, vật nuôi, nhất là các loại cây công nghiệp dài ngày (cao su, cà phê, tiêu, điều, chè…), cây ăn quả (sầu riêng, bơ), cây công nghiệp ngắn ngày (mía, thuốc lá…), cây lương thực (lúa, ngô…), cây thực phẩm (rau, đậu các loại…), chăn nuôi đại gia súc, gia cầm. Với mục tiêuđẩy mạnh hoạt động tuyên truyền vận động hội viên nông dân trong tỉnh tích cực ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ để nâng cao hiệu qủa hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, phát triển kinh tế gia đình, tập thể, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nông thôn mới; nâng cao nhận thức của cán bộ, hội viên nông dân về vị trí, vai trò của khoa học và công nghệ; nâng cao trình độ ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất và đời sống, kinh doanh và dịch vụ của nông dân. một số kết quả đạt được như sau:

Về công tác tuyên truyền

Các cấp Hội Nông dân phối hợp các ngành chức năng, cac cơ quan thông tấn báo chí trong tỉnh triển khai thực hiện tuyên truyền, quán triệt đến cán bộ, hội viên nông dân thông qua sinh hoạt chi, tổ hội, các lớp tập huấn, hội thi, hội thảo đầu bờ, bản tin nội bộ của Hội. Hàng năm, Hội Nông dân tỉnh chuyển tải 9.600 cuốn bản tin Nông dân Gia Lai gửi đến các cơ sở Hội, chi hội; chuyển tải báo nông thôn ngày nay (phát hành từ thứ 2 đến thứ 7 hàng tuần), Tạp chí trang tại Việt (phát hành hàng tháng) đến 222 cơ sở Hội để làm tài liệu tuyên truyền. Ngoài ra, các hoạt động khoa học, công nghệ được các cấp Hội đăng tải trên trangFacebook, Fanpage, Zalo của Hội nhằm kịp thời thông tin, tuyên truyền rộng rãi đến hội viên nông dân… Trong 05 năm, các cấp Hội đã tổ chức tuyên truyền được 7.372 buổi với  453.426 lượt người tham gia.

          Về tập huấn khoa học và công nghệ cho nông dân

Hội Nông dâncác cấp trong tỉnh phối hợp với các cơ quan chức năng như: Phòng Kinh tế - Hạ tầng, Phòng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Trung tâm dịch vụ nông nghiệp... tổ chức tập huấn về khoa học và công nghệ cho hội viên nông dân, nội dung tập trung chủ yếu ứng dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, nhằm tăng năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi, nâng cao hiệu quả kinh tế gắn với nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, sản xuất bền vững. Thông qua các lớp tập huấn được hội viên nông dân tích cực tham gia, trao đổi kinh nghiệm áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất. Đây cũng được xem như là một kênh để tuyên truyền, phổ biến kiến thức, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho hội viên nông dân. Trong 05 năm, các cấp Hội phối hợp tổ chức được 1.359 lớp tập huấn với 84.414 lượt người tham dự.

          Triển khai xây dựng mô hình ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ cho nông dân.

          Thông qua công tác tuyên truyền, tập huấn khoa học và công nghệ, hội viên nông dân đã nhận thức sâu sắc hơn tầm quan trọng, hiệu quả mang lại từ việc triển khai thực hiện các mô hình chuyển giao khoa học kỹ thuật, nâng cao năng xuất, sản lượng, rút ngắn thời gian canh tác, mức đầu tư ở các mô hình chăn nuôi, trồng trọt. Hội viên nông dân đã mạnh dạn tham gia các mô hình ứng dụng khoa học - công nghệ mới vào sản xuất; trong quá trình thực hiện luôn được sự quan tâm của các cơ quan chuyên môn, Hội đồng khoa học và công nghệ tạo điều kiện thuận lợi từ nguồn kinh phí, chuyển giao kỹ thuật; phần lớn các mô hình đạt yêu cầu với nhiệm vụ đề ra và được nhân rộng ở cơ sở. Trong 05 năm, các cấp Hội đã phối hợp triển khai được 73 mô hình/926 người tham gia với tổng kinh phí từ nguồn khoa học công nghệ 14.082,550 triệu đồng đầu tư sản xuất, kinh doanh đạt hiệu quả, chất lượng cao.

          Xây dựng và triển khai các dự án khoa học và công nghệ.

Các dự án khoa học và công nghệ hàng năm được triển khai đúng theo quy định của Bộ khoa học và công nghệ và được triển khai từ ngân sách của tỉnh cấp cho các đơn vị làm chủ dự án, Sở khoa học và công nghệ chỉ tham gia xem xét góp ý dự án cho cơ sở. Trong 05 năm, các cấp Hội đã phối hợp triển khai được 74 dự án với tổng mức đầu tư từ nguồn khoa học công nghệ 32.914,701 triệu đồng (trong đó năm 2017, UBND tỉnh cấp 01 tỷ đồng vốn sự nghiệp khoa học - công nghệ để Hội Nông dân tỉnh xây dựng mô hình nuôi bò lai kết hợp ủ phân vi sinh với quy mô 16 con/16 hộ, chăn nuôi dê bách thảo với quy mô 50 con/10 hộ và mô hình trồng bời lời đỏ với quy mô 20 ha/20 hộ tại xã ĐakTaLey và xã H’ra, huyện Mang Yang)

          Công tác hướng dẫn, hỗ trợ nông dân thực hiện chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể, sở hữu trí tuệ

Thực hiện Quyết định số 3220/QĐ-BKHCN ngày 24/10/2018 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ giao Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT) triển khai Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) giai đoạn 2018 - 2020; các cấp Hội phối hợp các cơ quan chuyên môn tổ chức các lớp tập huấn “Xây dựng, đăng ký, quản lý và phát triển quyền SHTT cho các sản phẩm trong khuôn khổ Chương trình OCOP”. Đến cuối năm 2019, toàn tỉnh có 42 sản phẩm đến từ 12/17 huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh được Hội đồng đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP tỉnh Gia Lai công nhận sản phẩm OCOP cấp tỉnh; trong đó có 08 sản phẩm được đánh giá 4 sao gồm: Hạt điều rang củi của Công ty cổ phần hạt điều Hải Bình; tiêu sọ hữu cơ Lệ Chí, tiêu đỏ hữu cơ Lệ Chí, tiêu đen hữu cơ Lệ Chí của Hợp tác xã thương mại - dịch vụ Nam Yang, huyện Đak Đoa; bò khô Huy Vũ của Công ty TNHH MTV Bò khô Huy Vũ Đắk Đoa; chanh dây quả của Hợp tác xã Nông nghiệp và dịch vụ Hùng Thơm Gia Lai; mật ong hoa cà phê của Hợp tác xã Mật ong Phương Di; Trà Biển Hồ của Công ty cổ phần Chè Biển Hồ; 34 sản phẩm khác được đánh giá 3 sao (50 điểm trở lên) như: viên tinh nghệ đỏ, hạt Sacha Inchi, gạo Phú Thiện, khoai lang Lệ Cần, gạo Ba Chăm, Rượu ngâm Đinh Lăng,…

Từ những kết quả như trên khẳng định chuwqowng trình phối hợp hoạt động giữa hội Nông dân tỉnh với sở Khoa học và công nghệ giai đoạn 2016 – 2020 đã phối hợp làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến hoạt động khoa học, công nghệ đến hội viên nông dân. Các ứng dụng KH&CN, đưa mô hình mới vào sản xuất cùng với chuyển đổi cơ cấu cây trồng đã góp phần nâng cao năng lực, trình độ thâm canh cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện sản xuất của hội viên nông dân. Đồng thời, việc hỗ trợ, định hướng xây dựng các mô hình đạt hiệu quả cao đã giúp nông dân sản xuất, ứng dụng các kỹ thuật mới, những kinh nghiệm hay vào trồng trọt, chăn nuôi nhằm tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, nâng cao thu nhập cho gia đình, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế ở địa phương, từng bước tạo ra vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh chất lượng cao; góp phần tích cực làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ và đa dạng hóa ngành nghề. Nông nghiệp phát triển ổn định; đã và đang phát huy lợi thế so sánh của từng vùng; từng loại cây trồng, vật nuôi; ứng dụng công nghệ cao, công nghệ hữu cơ, xây dựng cánh đồng lớn, áp dụng cơ giới, chế biến sâu, liên kết chuỗi giá trị… để nâng cao giá trị và hiệu quả sản xuất; tạo ra nông sản an toàn, nông sản sạch, có giá trị và sức cạnh tranh cao trên thị trường. Từ đó hình thành và phát triển nhiều vùng sản xuất cây trồng hàng hóa tập trung, qui mô lớn gắn với chế biến như cao su, cà phê, tiêu, chè ở phía tây tỉnh; mía đường, sắn ở khu vực phía đông tỉnh. Chăn nuôi tiếp tục phát triển những vật nuôi chủ lực, có lợi thế như chăn nuôi bò, heo theo hướng thâm canh, bán thâm canh; chăn nuôi trang trại để tạo ra sản phẩm hàng hóa lớn. Nuôi trồng thủy sản được chú trọng đầu tư, khuyến khích. Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng được quan tâm và chuyển biến tích cực.

VK