00:00 Số lượt truy cập: 2769388

Hướng dẫn kỹ thuật trồng lan hồ điệp (Phalaenopsis sp.) 

Được đăng : 15/04/2020

 

lan11
1
. Đặc điểm cây hoa lan hồ điệp

Lan Hồ Điệp có tên la tinh Phalaenopsis, thuộc họ phụ Vandeae. Tên gọi Phalaenopsis bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp có nghĩa là “giống như con bướm”. Lan Hồ điệp có nhiều giống với màu sắc rất phong phú. Hoa có độ bền 1-2 tháng.

- Rễ: Lan Hồ Điệp thuộc loại rễ bò, kích thước to, không có lông hút, bề mặt có lớp lông nhung nên hấp thu nước rất dễ dàng. Rễ có màu xanh, có tế bào diệp lục nên có thể quang hợp tự rễ.

- Thân: Lan Hồ Điệp thuộc loại lan đơn thân, thân rất ngắn được bao bọc bởi cuống lá.

- Lá: Lá lan Hồ Điệp to và dày, mọc đối nhau, cuống lá ôm lấy thân. Số lá không nhiều, cây thành thục có khoảng 4-6 lá.

- Hoa: Hoa tự của lan Hồ Điệp mọc ra từ nách lá. Cành hoa có thể phân nhánh hoặc không phân nhánh, có 3 cánh đài, 3 cánh tràng, 3 cánh đài thường giống với cánh tràng. Một cánh tràng biến đổi thành hình lưỡi gọi là cánh môi. Giữa hoa có trục hoa nối với cuống hoa. Đầu trục có cả nhị và nhụy hoa gắn vào. Hoa thường khó tự thụ, phải nhờ các loại ong, bướm đến thụ phấn mới đậu quả được.

-  Quả và hạt: Quả dạng quả nang, phát dục chậm. Sau 4 tháng  mới chín và nứt ra được. Quả có rất nhiều hạt, hạt nhỏ như hạt bụi, không có nội nhũ, trong điều kiện tự nhiên không dễ nảy mầm. Bằng cách gieo hạt trong môi trường dinh dưỡng thì sẽ có nhiều cây con.

2. Thời vụ trồng hoa lan hồ điệp

            Hiện nay, hoa lan hồ điệp được trồng quanh năm trong nhà lưới công nghệ

3. Giá thể trồng hoa lan hồ điệp

Sử dụng giá thể là dớn (rêu) đã được tẩy trắng và phơi khô. Trước khi trồng cần xử lý trừ nấm bằng thuốc Daconil 10g/10 lít nước, ngâm giá thể trong 10 – 15 phút sau đó vớt ra, vắt khô nước rồi đem trồng.

4. Kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa lan hồ điệp

4.1. Chuẩn bị nhà lưới

Nhà lưới để sản xuất hoa lan hồ điệp theo quy mô công nghiệp phải có diện tích tối thiểu 360m2, có thể trồng được 10.000 cây thương phẩm.

Nhà lưới được trang bị hệ thống lưới cắt nắng, hệ thống thông gió, hệ thống tản nhiệt cưỡng bức bằng tấm tản nhiệt, hệ thống quạt đối lưu, hệ thống rèm che mái, hệ thống rèm che hai bên sườn, hệ thống tăng nhiệt...

Thiết bị điều tiết nhiệt độ gồm thiết bị tăng nhiệt (hệ thống tăng nhiệt bằng hơi nóng), thiết bị hạ nhiệt (hệ thống quạt hút gió và tấm làm mát) và hệ thống quạt đảo gió, nếu có điều kiện có thể dùng máy điều hòa nhiệt độ 2 chiều, nhiệt độ có thể khống chế trong phạm vi trên 150C trong vụ đông, xuân và dưới 310C trong vụ hè, thu.

Hệ thống điều khiển cường độ ánh sáng bằng lưới cản quang, cường độ ánh sáng có thể điều chỉnh đảm bảo theo từng giai đoạn sinh trưởng của cây.

4.2. Chuẩn bị dụng cụ và chậu nuôi

Chậu dùng trồng Lan Hồ điệp phải là chậu màu trắng trong để cho rễ quang hợp và phát triển thuận lợi.

Cây con mới ra ngôi dùng chậu 1.5 (kích thước 5 x 5 cm), sau 5-6 tháng, cây nhỡ chuyển sang chậu 2.5 (kích thước 8 x 8 cm), sau 12 tháng cây lớn đổi sang chậu 3.5 (kích thước 12 x 12 cm).

Ngoài ra cần chuẩn bị khay để cây, cần 3 loại khay: khay để cây nhỏ (chậu 1.5): 22cây/1 khay, khay để cây nhỡ (chậu 2.5): 10 cây/1 khay, khay để cây lớn (chậu 3.5): 8 cây/1 khay.

4.3. Kỹ thuật trồng và chăm sóc

- Giai đoạn cây con (từ ra ngôi đến 6 tháng tuổi)

Cây con sau khi ra ngôi, dùng giá thể bao bọc xung quanh rễ rồi trồng trong chậu 1.5, độ chặt của giá thể vừa phải, mặt trên của giá thể cách miệng chậu 0,5 cm, định mức 1 kg giá thể khô trồng được 200 cây.

Tưới nước: giai đoạn đầu (4 tuần kể từ sau ra ngôi) chỉ cần tưới nhẹ trên bề mặt lá, khi thấy đỉnh rễ xuất hiện ở vách chậu và lá mới xuất hiện thì lượng nước là 100% chậu.

Cường độ ánh sáng trong 4 tuần đầu khống chế ở 5.000 lux, sau đó tăng dần, tối đa 8.000 lux sau 5 tháng. Nhiệt độ tốt nhất ở khoảng 20 – 320C.

Sử dụng phân bón chuyên dùng cho lan có thành phần NPK với tỷ lệ đạm (N) cao, chẳng hạn HT-Orchid (N-P205-K20+TE =30-10-10+TE), pha với tỷ lệ 40 gam/100 lít nước, phun và tưới định kỳ 5 – 7 ngày 1 lần. Bên cạnh đó bổ sung thêm B1,  lượng dùng 60ml/100 lít nước hoặc phân bón vi lượng, 10 – 15 ngày phun 1 lần. Kiểm tra EC của giá thể sau khi tưới phân, đạt tối đa 1 ms/cm.Nếu EC> 1 ms/cm, khi tưới cần giảm nồng độ dung dịch phân.

- Giai đoạn thay chậu lần 1 (cây 5-6 tháng tuổi)

Cây con trồng trong chậu 1.5, sau 5-6 tháng, khoảng cách giữa 2 đầu mút lá khoảng 12 - 15cm, rễ ra đều xung quanh chậu, cần tiến hành thay chậu lần thứ nhất là chậu 2.5.

Cách thay chậu: lấy cây con (bao gồm cả giá thể) ra khỏi bầu, dùng giá thể bọc kín rễ rồi đặt nhẹ vào chậu nhựa 2.5, đảm bảo bầu không quá chặt và cũng không lỏng quá để thoát nước tốt, giá thể cách mép trên của chậu khoảng 1 cm, mặt bầu phẳng, định mức 1 kg giá thể khô trồng được 90 cây

Cường độ ánh sáng trong 4 tuần đầu thay chậu duy trì ở 8.000 lux, sau đó tăng dần, tối đa 15.000 lux sau 10 – 12 tháng tuổi, nhiệt độ từ 20 – 30oC.

Sử dụng phân bón chuyên dùng cho lan có thành phần NPK tỷ lệ tương đương nhau,chẳng hạn HT-Orchid (N-P205-K20+TE = 20-20-20+TE) với tỷ lệ 60 gam/100 lít nước, phun và tưới định kỳ 5 - 7 ngày 1 lần. Bên cạnh đó bổ sung thêm B1,  lượng dùng 60ml/100 lít nước hoặc phân bón vi lượng, 10 – 15 ngày phun 1 lần.Yêu cầu EC của giá thể sau khi tưới phân < 1 ms/cm.

Tưới nước: phương pháp tưới tương tự như giai đoạn cây con.

- Giai đoạn thay chậu lần 2 (cây 10 - 12 tháng tuổi)

Cây con trồng trong chậu 2.5, sau 5 – 6 tháng, khoảng cách giữa 2 đầu mút lá khoảng 18 - 20cm, rễ ra đều xung quanh chậu, cần tiến hành thay chậu lần thứ hai là chậu 3.5.

Cách thay chậu: tương tự như cách thay chậu lần thứ nhất, định mức 1 kg giá thể khô trồng được 40 cây.

Tưới nước: tưới tương tự như giai đoạn thay chậu lần thứ nhất.

Cường độ ánh sáng trong 4 tuần đầu thay chậu duy trì ở 10.000 lux, sau đó tăng dần và đạt tối đa 20.000 lux sau 5 – 6 tháng, nhiệt độ từ 20 – 30oC.

Sử dụng phân bón có thành phần NPK tỷ lệ tương đương nhau, chẳng hạn HT-Orchid (N-P205-K20+TE = 20-20-20+TE) với tỷ lệ 80 gam/100 lít nước, phun và tưới định kỳ 5 - 7 ngày 1 lần. Bên cạnh đó bổ sung thêm B1,  lượng dùng 60ml/100 lít nước hoặc phân bón vi lượng, 10 – 15 ngày phun 1 lần. Yêu cầu EC của giá thể sau khi tưới phân < 1 ms/cm.

- Xử lý phân hóa mầm hoa (áp dụng cho vùng Đồng bằng hoặc vùng có nhiệt độ trung bình trên 30oC)

Cây lan trồng trong bầu 3.5 được 5 -6 tháng, khoảng cách giữa 2 đầu mút lá khoảng 25 - 30 cm, rễ ra đều xung quanh bầu là đủ tiêu chuẩn đưa vào xử lý phân hóa mầm hoa (thời gian từ khi ra ngôi đến khi đủ tiêu chuẩn đưa vào xử lý phân hóa mầm hoa là 18–20 tháng tuổi, để có hoa nở vào Tết thì cần ra ngôi cây từ tháng 1–2 năm trước).

Lan Hồ điệp thường ra hoa tự nhiên vào tháng 2-3 âm lịch (sau Tết). Muốn có hoa vào dịp Tết cần phải xử lý điều khiển ra hoa. Có 2 cách xử lý phân hóa mầm hoa:

Cách 1: Xử lý nhân tạo

- Điều kiện xử lý: nhà lưới hiện đại có các thiết bị lạnh có thể điều khiển được nhiệt độ, thiết bị điều khiển ánh sáng.

- Thời gian bắt đầu xử lý 15/7 (âm lịch).

- Chế độ nhiệt độ: Duy trì điều kiện nhiệt độ ban ngày 240C – 260C (12 tiếng), ban đêm 160C - 180C.

- Chế độ ánh sáng: Cường độ ánh sáng ban ngày 15.000 – 20.000lux trong thời gian 6 – 8 tiếng/ngày.

- Phân bón: sử dụng loại phân có thành phần NPK với tỷ lệ lân cao, chẳng hạn HT-Orchid (9-45-15+TE), pha với tỷ lệ 80gam/100 lít nước, phun và tưới trước khi đưa vào xử lý 10 ngày và định kỳ 5 - 7 ngày 1 lần trong suốt quá trình xử lý. Bên cạnh đó bổ sung thêm phân bón vi lượng cho cây, 10 – 15 ngày phun 1 lần. Yêu cầu EC của giá thể sau khi tưới phân < 1 ms/cm.

Khi mầm hoa dài 7 – 10 cm (khoảng 50 – 60 ngày) thì chuyển sang giai đoạn chăm sóc sau phân hóa mầm hoa.

Cách 2: Xử lý trong điều kiện tự nhiên

            - Điều kiện nơi xử lý: Chọn những nơi có điều kiện sinh thái mát mẻ (nhiệt độ ban đêm 16 - 180C, nhiệt độ ban ngày 24 – 260C, độ ẩm 50 – 70%, độ cao so với mặt biển >700 m), có số giờ chiếu sáng từ 6 – 10 tiếng/ngày với cường độ ánh sáng trên 15.000 lux, đường giao thông thuận lợi, địa hình bằng phẳng (ví dụ Mộc Châu – Sơn La, SaPa – Lào Cai…).

            - Chuẩn bị nhà che: Làm nhà che kiên cố hoặc nhà che tạm đảm bảo được tránh mưa, nắng trực tiếp, có giàn để cây. Làm hướng nhà và giàn che theo hướng Bắc – Nam để tận dụng được nhiều ánh sáng mặt trời.  

- Thời gian bắt đầu xử lý 15/7 (âm lịch).

- Chế độ ánh sáng: Cường độ ánh sáng ban ngày 15.000 – 20.000lux, trong khoảng 6 – 8 tiếng/ngày, có thể điều chỉnh bằng việc kéo và thu lưới đen.

- Bón phân tương tự như cách 1

- Các kỹ thuật khác: trường hợp nhiệt độ trong quá trình xử lý lớn hơn 260C thì phải có biện pháp làm giảm: cuộn nilon hai bên sườn nhà lưới lên, che lưới đen. Nếu nhiệt độ thấp hơn 150C cần hạ nilon hai bên sườn nhà lưới xuống và thắp bóng điện hoặc dùng hơi nóng từ nước hay lò đốt than để tăng nhiệt độ. 

Khi mầm hoa dài 7 – 10 cm (khoảng 50 – 60 ngày) thì chuyển sang giai đoạn chăm sóc sau phân hóa mầm hoa.

- Chăm sóc giai đoạn sau phân hóa mầm hoa

+ Điều khiển chế độ nhiệt độ, ánh sáng

Cần điều khiển chế độ nhiệt thích hợp cho sự sinh trưởng giai đoạn sau phân hóa mầm hoa là 18 – 280C.

Cường độ ánh sáng 15.000 – 20.000lux, trong thời gian 6 – 8 tiếng/ngày.

Cây lan Hồ điệp sau khi đã được xử lý phân hoá mầm hoa, thời gian từ khi xuất hiện mầm hoa đến khi hoa đầu tiên nở là 110 - 115 ngày, căn cứ vào đó để điều khiển sinh trưởng nở hoa vào đúng dịp Tết. 

+  Bón phân

            Loại phân thích hợp nhất cho lan Hồ điệp giai đoạn sau phân hoá mầm hoa là phân có thành phần lân và kali cao để dưỡng hoa, chẳng hạn HT-Orchid (10 – 20 – 20+TE), tưới với liều lượng 80gam/100 lít nước, cách 7 ngày tưới 1 lần. Yêu cầu EC của giá thể sau khi tưới phân < 1 sm/cm.

+ Tưới nước

Thường xuyên kiểm tra độ ẩm giá thể, không nên để giá thể khô quá hoặc ướt quá, tưới vào lúc sau 9h sáng và trước 4h chiều, bật quạt thông gió vườn trồng, giảm sự phát sinh của bệnh hại. Sử dụng nước tưới sạch, nước được lọc có pH từ 6 – 6,5, EC < 0,25 ms/cm.

+ Quản lý kỹ thuật vườn lan

Khi sản xuất sắp xếp chiều cao mầm hoa theo thứ tự  mầm hoa thấp để gần quạt hút gió và chiều cao mầm tăng dần về phía tấm làm mát để khi thu hoạch sẽ cho sản phẩm hoa lan nở đồng đều nhau.

Khi cành hoa dài 15 – 20cm, cần dùng que thép và kẹp để cố định mầm hoa cho mọc thẳng ngay từ gốc.

5. Phòng và trị sâu, bệnh hại

-  Bệnh thối nhũn (Erwinia sp.)

 Triệu chứng: Lá bị bệnh biểu bì và thiệt lá rời nhau ra, khi bị lực tác động (tưới nước, bón phân) rất dễ rách. Bệnh phát triển mạnh nhất từ tháng 4 đến tháng 7, khi nhiệt độ và ẩm độ cao.

Phòng trừ:

Đảm bảo vườn thông thoáng, nguồn nước tưới sạch.

Phun thuốc kháng sinh: 1g Steptomicin +1g Tetracylin hòa trong 1,5 lít nước.

- Bệnh thối đen (Phytophthora palmivora)

Triệu chứng: Khi bệnh phát sinh sẽ làm cho rễ, thân bị thối

Phòng trừ:

Dùng thuốc: Dupont Kcide 53.8 DF 15-16g/16 lít nước hoặc Rhidomil Gold 68%WP 25g/bình 10 lít hoặc Daconil 10ml/bình 8 lít

- Rệp sáp (Chrysomphalus ficus)

Triệu chứng: lá bị hại nặng, bị vàng khô héo và rụng.

- Phòng trừ:

Phòng trừ bằng sinh vật. Bọ nhảy là thiên địch của rệp

Dùng tấm bìa màu vàng dẫn dụ rồi diệt.

Dùng thuốc phun: Supracide hoặc Actara với lượng 10ml/10 lít nước

- Nhện hại (Tetranychus sp.)

Triệu chứng:

Nhện đỏ trích trú ngụ ở mắt trên hoặc mặt dưới lá, trích hút dịch lá. Khi nghiêm trọng làm cho lá bị cháy vàng lõm xuống héo đi và biến dạng, cuối cùng làm cho lá vàng khô và rụng

Phòng trừ: Dùng thuốc: Aramite 15% 15g/10 lít nước, Kelthane 2%15g/10 lít nước, Brightin 10ml/10 lít nước

6. Thu hoạch  

Khi cây có từ 1 – 3 nụ nở là lúc có thể tiêu thụ. Đóng thùng cát tông có đục lỗ với kích thước: dài 120 cm, rộng 40 cm, cao 20 cm, đóng 20 cây/thùng. Khi đóng thùng cần phải bao gói từng cành hoa bằng giấy mềm rồi xếp nằm, lần lượt theo chiều của cành hoa vào thùng, dùng băng dính cố định chậu hoa vào cạnh thùng.

7. Bảo quản

Bảo quản trong điều kiện mát và đủ thoáng cho cây, nếu trong xe lạnh để ở nhiệt độ từ 20 – 250C và thời gian trong thùng không quá 4 ngày để tránh thui, rụng nụ hoa.

8. Hình ảnh một số giống hoa lan hồ điệp hiện nay


lan-4



lan1

lan2

lan3

                                                                             
 
Thạc sĩ: Ngô Văn Kỳ