00:00 Số lượt truy cập: 3313781

KINH NGHIỆM NUÔI TÔM NƯỚC LỢ ĐẠT HIỆU QUẢ CAO 

Được đăng : 11/11/2025

Nuôi tôm nước lợ là ngành sản xuất có giá trị kinh tế lớn nhưng chịu nhiều rủi ro do dịch bệnh, biến động môi trường và chi phí đầu vào cao. Thực tiễn cho thấy, việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, quản lý tốt môi trường và tổ chức nuôi theo hướng an toàn sinh học là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả và tính bền vững của mô hình. Dưới đây là một số kinh nghiệm nuôi tôm nước lợ mang lại hiệu quả cao, đang được áp dụng rộng rãi tại nhiều địa phương.

1. Ứng dụng công nghệ Biofloc – nuôi tôm ít thay nước

Trong ao nuôi tôm, chất thải từ vật nuôi và thức ăn dư thừa tích tụ sẽ làm suy giảm chất lượng nước, phát sinh khí độc và mầm bệnh. Công nghệ biofloc là giải pháp kỹ thuật tiên tiến nhằm xử lý vấn đề này thông qua việc kiểm soát tỷ lệ carbon và nitơ (C/N) trong ao nuôi.

Khi bổ sung nguồn carbon phù hợp, các vi sinh vật có lợi sẽ phát triển mạnh, chuyển hóa chất thải hữu cơ và nitơ vô cơ thành sinh khối vi sinh gọi là biofloc. Các biofloc này vừa giúp làm sạch môi trường nước, vừa trở thành nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm, góp phần nâng cao sức đề kháng và tốc độ tăng trưởng.

Thực tế sản xuất cho thấy, ao nuôi áp dụng công nghệ biofloc có thể tăng trên 40% sản lượng tôm, giảm hệ số chuyển đổi thức ăn, tiết kiệm 20 – 30% chi phí thức ăn và giảm khoảng 70% lượng nước thay so với hình thức nuôi truyền thống. Đây là hướng đi phù hợp trong điều kiện nguồn nước ngày càng hạn chế và yêu cầu bảo vệ môi trường ngày càng cao.

2. Nuôi tôm theo quy trình hai giai đoạn

Nuôi tôm hai giai đoạn là mô hình kỹ thuật được áp dụng nhằm nâng cao tỷ lệ sống và hạn chế dịch bệnh. Theo quy trình này, tôm giống được ương trong bể hoặc ao riêng trước khi chuyển sang ao nuôi thương phẩm.

Giai đoạn ương có mật độ cao, tôm được nuôi đến cỡ từ 0,3 – 3 g/con (PL45 trở lên) rồi mới thả ra ao nuôi. Nhờ được thuần dưỡng trong môi trường ổn định, tôm khỏe mạnh hơn, thích nghi tốt với điều kiện nuôi, từ đó giảm nguy cơ mắc các bệnh nguy hiểm như hoại tử gan tụy cấp và đốm trắng.

Áp dụng nuôi hai giai đoạn giúp rút ngắn thời gian nuôi thương phẩm từ 20 – 30 ngày, giảm hệ số chuyển đổi thức ăn từ 10 – 30% và tăng năng suất từ 20 – 30%. Tuy nhiên, mô hình này đòi hỏi người nuôi phải nắm vững kỹ thuật ương giống, quản lý thức ăn và đặc biệt chú trọng khâu vận chuyển tôm từ ao ương sang ao nuôi để tránh gây sốc cho tôm.

3. Nuôi tôm trong nhà màng, nhà kín

Mô hình nuôi tôm trong nhà màng đang được nhân rộng tại nhiều địa phương nhờ khả năng kiểm soát tốt các yếu tố môi trường và hạn chế tác động bất lợi từ thời tiết.

Trong mô hình này, tôm thẻ chân trắng được nuôi với mật độ cao, từ 200 – 250 con/m², thời gian nuôi khoảng 2,5 – 3 tháng, năng suất có thể đạt 60 – 70 tấn/ha. Nhà màng giúp ổn định nhiệt độ, hạn chế mưa, gió và ngăn chặn sự xâm nhập của mầm bệnh từ bên ngoài.

Để nuôi hiệu quả, cơ sở nuôi phải được trang bị đầy đủ hệ thống sục khí, máy bơm, máy phát điện dự phòng và các thiết bị đo môi trường. Diện tích ao lắng cần chiếm tối thiểu 25% tổng diện tích mặt nước. Trong suốt vụ nuôi, người nuôi phải thường xuyên theo dõi các chỉ tiêu môi trường như pH, nhiệt độ, oxy hòa tan, độ trong và định kỳ kiểm tra các chỉ tiêu độc như NH₃, NO₂, H₂S, Vibrio nhằm đảm bảo an toàn sinh học.

4. Nuôi tôm kết hợp cá rô phi và hệ thống tuần hoàn

Nuôi ghép tôm với cá rô phi là giải pháp sinh học hiệu quả giúp cải thiện môi trường ao nuôi và giảm thiểu dịch bệnh. Cá rô phi có khả năng ăn mùn bã hữu cơ, tảo tàn và đảo trộn các tầng nước, từ đó làm sạch đáy ao, hạn chế sự phát triển của vi khuẩn có hại.

Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, nuôi tôm kết hợp cá rô phi giúp tăng sản lượng tôm khoảng 10%, tăng kích cỡ và nâng cao tỷ lệ sống. Mô hình này có thể kết hợp với hệ thống nuôi tuần hoàn khép kín, trong đó nước được xử lý và tái sử dụng liên tục qua ao lắng có thả cá rô phi.

Hệ thống tuần hoàn có ưu điểm tiết kiệm nước, giảm ô nhiễm môi trường và hạn chế dịch bệnh. Tuy nhiên, chi phí đầu tư ban đầu cao và yêu cầu người vận hành phải có kiến thức kỹ thuật, quản lý chặt chẽ hệ thống lọc và sục khí trong suốt quá trình nuôi.

Hoàng Hà