00:00 Số lượt truy cập: 1546866

Kỹ thuật nuôi tôm áp dụng công nghệ sinh học 

Được đăng : 02/08/2021
Áp dụng công nghệ sinh học (CNSH) trong nuôi tôm thương phẩm hiện nay được coi là giải pháp hỗ trợ mang tính tất yếu để ngành nuôi tôm công nghiệp ổn định và phát triển bền vững. Việc lạm dụng hóa chất kháng sinh trong nuôi tôm thâm canh hiện nay đã và đang phá vỡ cân bằng hệ sinh thái và tác động xấu đến môi trường, chất lượng sản phẩm kém và tồn lưu các hóa chất, kháng sinh cấm sử dụng đang tạo nên rào cản trong việc xuất khẩu tôm Việt Nam ra thị trường thế giới. Do đó, nuôi tôm ứng dụng CNSH không sử dụng kháng sinh, hóa chất cần ứng dụng trong tất cả các khâu của quá trình nuôi.

 

 nuoi-tom12

 

   1. Tác dụng chế phẩm sinh học với môi trường và tôm nuôi

  Chế phẩm sinh học trong môi trường nước sẽ kích thích sự phát triển của các vi sinh vật có lợi, cạnh tranh môi trường sống, làm giảm vi sinh vật có hại, ổn định môi trường ao nuôi, giúp chuyển hóa các chất hữu cơ, như: thức ăn dư thừa, xác tảo, cặn bã… thành chất vô cơ không độc hại cho tôm nuôi; đồng thời sẽ chuyển các chất độc hại như: NH3, NO2… thành các chất không độc NO3, NH4+, từ đó ổn định chất lượng nước và nền đáy trong ao nuôi.

  Chế phẩm sinh học trong ruột tôm giúp kích thích vi khuẩn có lợi phát triển, cạnh tranh để giảm dần số lượng vi khuẩn gây bệnh đường ruột cho tôm, tham gia quá trình biến dưỡng tạo vitamin, chuyển hóa các chất dinh dưỡng từ cung cấp năng lượng cho nuôi tôm, tiết ra một số chất kháng sinh, enzym hay hóa chất kìm hãm, tiêu diệt mầm bệnh, nâng cao sức khỏe và sức đề kháng cho tôm.

  2. Kỹ thuật nuôi

   2.1. Giai đoạn 1: trước khi thả giống

  Cải tạo ao nuôi: đối với ao đất có thể tháo cạn nước trong ao, dọn bùn đáy ao và sử dụng chế phẩm vi sinh để xử lý bùn đen ở đáy ao. Phơi đáy 10 - 15 ngày. Cày xới đáy ao để các khí độc NH3, H2S thoát ra khỏi đáy ao để tạo điều kiện thuận lợi cho hệ vi sinh vật phân giải ở đáy ao phát triển mạnh. Bón vôi cải tạo đáy và bờ ao. Cấp nước và diệt khuẩn với các sản phẩm không độc cho tôm như vikon hoặc ít độc cho tôm như iodine. Chỉ diệt khuẩn bằng chlorin khi thực sự cần thiết với những ao nuôi khi vụ trước bị bệnh hoặc ao nuôi nằm trong vùng có dịch bệnh. Sau 5 - 6 ngày, tiến hành diệt tạp và bón phân gây màu nước. Đối với những ao nuôi khó gây màu nước có thể sử dụng chế phẩm vi sinh probio để gây màu nước. Với những ao nuôi có đáy bị nhiễm phèn nặng dùng chế phẩm vi sinh chuyên xử lý phèn có chủng vi sinh Thiobacillus spp. để xử lý phèn. Sử dụng chế phẩm vi sinh để gia tăng hàm lượng vi sinh vật có lợi trong ao nuôi. Kiểm tra thành phần vi sinh trong ao khi đạt yêu cầu thì tiến hành thả giống.

  Đối với ao nuôi lót bạt HPDE, sau khi cải tạo ao xong tiến hành cấp nước đã xử lý vào ao nuôi, sau đó sử dụng chế phẩm vi sinh theo hướng dẫn của nhà sản xuất để nâng cao mật số vi khuẩn có lợi và kìm hãm sự tăng sinh vi khuẩn có hại trong ao nuôi.

   2.2. Giai đoạn 2: trong quá trình nuôi

  Sử dụng chế phẩm vi sinh xử lý môi trường nước định kỳ trong suốt vụ nuôi để ổn định một số vi khuẩn có lợi trong ao nuôi nhằm duy trì chất lượng nước trong suốt vụ nuôi và phòng trừ dịch bệnh. Sử dụng chế phẩm vi sinh trộn vào thức ăn trong suốt quá trình nuôi để ổn định hệ vi sinh vật trong đường ruột của tôm nhằm tăng cường sự bắt mồi của tôm, tăng khả năng tiêu hóa và hấp thu thức ăn, nâng cao hiệu suất sử dụng thức ăn, đồng thời giúp phòng trị các bệnh về đường ruột của tôm.

  2.3. Giai đoạn 3: sau khi thu hoạch tôm thương phẩm

  Sử dụng chế phẩm vi sinh để xử lý nước thải trước khi thải ra môi trường. Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều loại chế phẩm vi sinh với nhiều thương hiệu khác nhau; tuy nhiên chế phẩm vi sinh được dùng phổ biến nhất, giá thành thấp, hiệu quả sử dụng cao và dễ áp dụng cho các hộ nuôi tôm là chế phẩm EM (Efective Microorganism: vi sinh vật hữu hiệu). Sử dụng theo đúng hướng dẫn của nhà sản xuất.

  Bà con lưu ý, có thể phòng, trị một số bệnh tôm bằng chế phẩm sinh học:

  - Tôm nổi đầu do khí độc, bà con hòa tan 2 - 3 lít EM gốc vào 20 lít nước lấy từ ao nuôi rồi tạt đều vào ao nuôi ngay lúc tôm nổi đầu, đồng thời mở dàn quạt chạy hết công suất.
 - Tôm bị mòn đuôi, cụt râu, dùng 2 - 3 lít EM tỏi cộng với 10kg thức ăn, trộn đều và ủ kín thức ăn trong 4 giờ, sau đó cho tôm ăn theo tỷ lệ 1kg/100.000 tôm giống/ngày, hoặc dùng 50 lít EM2/1.000m2/ngày, dùng liên tiếp 3 lần với khoảng cách 2 ngày/lần.
 - Tôm bị đóng rong, dùng 4 lít EM5/1.000m2 dùng liên tiếp trong 5 ngày vào buổi sáng và khi tảo chết nhiều độ pH thấp dùng vôi để nâng pH;
  - Tôm bệnh đốm trắng, dùng 5 lít EM5/1.000m2 dùng liên tiếp trong 5 ngày vào buổi sáng đến khi tôm lột xác nhiều ngừng sử dụng EM5 thay thế bằng 10 lít EM2/1.000m2/2 ngày và dùng liên tiếp cho đến lúc bệnh đốm trắng giảm dần.

Ths. Phạm Văn Đức