Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, yêu cầu về an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường ngày càng khắt khe, nông nghiệp hữu cơ đang dần trở thành xu thế tất yếu của nền nông nghiệp hiện đại. Tại Sơn La – địa phương có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn của vùng Tây Bắc – những năm gần đây đã ghi nhận bước chuyển mạnh mẽ từ sản xuất truyền thống sang nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, mở ra hướng đi mới cho phát triển nông nghiệp bền vững.
Nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã (HTX), hộ kinh doanh trên địa bàn tỉnh đã chủ động thay đổi tư duy sản xuất, từng bước áp dụng các quy trình canh tác an toàn, thân thiện với môi trường nhằm nâng cao giá trị nông sản, gia tăng khả năng cạnh tranh và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và xuất khẩu.
Tiềm năng lớn cho phát triển nông nghiệp hữu cơ
Hiện nay, tổng diện tích đất sản xuất cây trồng của Sơn La đạt gần 335.300 ha, trong đó diện tích cây hằng năm gần 213.000 ha; cây công nghiệp và cây ăn quả lâu năm đạt hơn 122.000 ha. Các loại cây trồng chủ lực như cà phê, xoài, nhãn, na, mận… được phát triển theo vùng tập trung, tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị và từng bước chuyển đổi sang mô hình nông nghiệp hữu cơ.
Giai đoạn 2020–2025, tỉnh đã ban hành và triển khai nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm tạo đòn bẩy cho tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng bền vững, khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế từng vùng. Đặc biệt, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 08/NQ-TU ngày 21/1/2021 về phát triển nông, lâm nghiệp và thủy sản tập trung, bền vững, ứng dụng công nghệ cao đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, với mục tiêu đưa Sơn La trở thành trung tâm phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của vùng Tây Bắc.
Để cụ thể hóa Nghị quyết, UBND tỉnh đã ban hành 10 kế hoạch, 6 đề án chuyên đề; thành lập Tổ công tác theo dõi, chỉ đạo triển khai; đồng thời phát động các phong trào thi đua, khuyến khích doanh nghiệp, HTX và người dân đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Nhờ đó, cơ cấu sản xuất nông nghiệp của tỉnh có sự chuyển dịch tích cực, nhiều sản phẩm được xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý, từng bước tham gia chuỗi cung ứng trong nước và xuất khẩu – tạo nền tảng quan trọng cho phát triển nông nghiệp hữu cơ.
Những mô hình tiên phong từ thực tiễn
Thực tế tại nhiều địa phương trong tỉnh cho thấy, nông nghiệp hữu cơ không chỉ là xu hướng mà đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ nét. Tiêu biểu là HTX nông sản bản địa Noọng Piêu, bản Kim Chung 3, xã Phiêng Khoài. Thành lập năm 2020 với 11 thành viên, HTX hiện có 50 ha mận hậu được đầu tư đồng bộ về hệ thống tưới, sử dụng phân bón hữu cơ, chế phẩm vi sinh cải tạo đất và phòng trừ sâu bệnh bằng biện pháp sinh học.
Chị Bùi Phương Thanh, Phó Giám đốc HTX, cho biết: “Nhờ sản xuất theo hướng an toàn, hữu cơ, chất lượng quả mận được nâng lên rõ rệt, quả to đều, mẫu mã đẹp. Hiện nay, mận Ruby của HTX đã đạt chứng nhận OCOP 4 sao; có 36,5 ha sản xuất theo VietGAP, 30 ha được cấp mã số vùng trồng xuất khẩu. Sản lượng hàng năm đạt 250–300 tấn, doanh thu từ 8–10 tỷ đồng.”
Bên cạnh đó, HTX sản xuất, kinh doanh và dịch vụ tổng hợp Bình Thuận là một trong những mô hình tiêu biểu trong áp dụng quy trình sản xuất chè an toàn, hướng hữu cơ gắn với ứng dụng công nghệ cao. HTX hiện có 25 thành viên, liên kết với khoảng 500 hộ dân, quản lý và chăm sóc vùng nguyên liệu hơn 400 ha chè. Trong đó, 35 ha đạt tiêu chuẩn VietGAP, diện tích còn lại áp dụng quy trình sản xuất an toàn, giảm hóa chất, tăng cường sử dụng chế phẩm sinh học, với sản lượng chè hàng năm đạt từ 200–400 tấn.
Thách thức không nhỏ trên con đường hữu cơ hóa
Dù có nhiều tiềm năng và mô hình bước đầu thành công, song phát triển nông nghiệp hữu cơ tại Sơn La vẫn đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Hiện nay, diện tích được cấp chứng nhận hữu cơ toàn tỉnh mới đạt 264,8 ha, chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp.
Tiến sĩ Nguyễn Minh Đức, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, phân tích: Theo Bộ Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11041:2017, sản xuất nông nghiệp hữu cơ phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc, trong đó có yêu cầu vùng cách ly với khu vực sản xuất truyền thống để tránh tác động của hóa chất. Tuy nhiên, tại Sơn La, hầu hết các vùng sản xuất cây trồng nằm trên địa hình dốc, manh mún, gây khó khăn cho việc khoanh vùng và tổ chức sản xuất hữu cơ tập trung.
Bên cạnh đó, đa số HTX nông nghiệp trong tỉnh có quy mô nhỏ, nguồn vốn hạn chế, năng lực quản trị còn yếu; số doanh nghiệp có tiềm lực mạnh đầu tư xây dựng chuỗi liên kết giá trị sản phẩm hữu cơ chưa nhiều. Hệ thống giao thông nội đồng, thủy lợi tại một số vùng sản xuất còn thiếu và chưa đồng bộ, trong khi phương thức canh tác hữu cơ đòi hỏi phải chủ động tưới tiêu, tuân thủ nghiêm các quy luật sinh học của cây trồng.
Không chỉ vậy, thị trường tiêu thụ sản phẩm hữu cơ hiện nay chưa thực sự ổn định. Mối liên kết giữa sản xuất – chế biến – tiêu thụ chưa bền chặt; nhận thức của một bộ phận người tiêu dùng về sản phẩm hữu cơ còn hạn chế, chưa phân biệt rõ với sản phẩm thông thường, vẫn ưu tiên lựa chọn giá rẻ, khiến sản phẩm hữu cơ khó bán với mức giá tương xứng.
Giải pháp thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ phát triển bền vững
Thực tiễn cho thấy, để phát triển nông nghiệp hữu cơ một cách bền vững, cần có cách tiếp cận tổng thể, đồng bộ, với sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp, HTX và người nông dân. Trong đó, việc xây dựng và nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả, phù hợp điều kiện từng địa phương là yếu tố then chốt.
HTX Rau an toàn Tự Nhiên, phường Mộc Sơn là một điển hình. Nhiều năm qua, các thành viên HTX kiên trì thực hiện cam kết “không phân hóa học, không thuốc trừ sâu”. Năm 2020, HTX được cấp chứng nhận sản xuất rau theo tiêu chuẩn hữu cơ TCVN 11041:2-2017 với diện tích 5 ha, sản lượng đạt 145 tấn/năm.
Bà Nguyễn Thị Luyến, Giám đốc HTX, chia sẻ: “Chúng tôi không chỉ hướng tới bán nông sản mà muốn xây dựng một hệ sinh thái nông nghiệp khép kín, tận dụng phụ phẩm tự nhiên, kết hợp phát triển du lịch trải nghiệm sinh thái. Qua đó, tạo sinh kế bền vững và giúp người tiêu dùng hiểu, gắn bó hơn với sản xuất nông nghiệp hữu cơ.”
Cùng với đó, việc tự chủ nguồn phân bón hữu cơ tại chỗ được xem là giải pháp quan trọng nhằm giảm chi phí đầu vào, nâng cao tính bền vững của sản xuất. Sơn La có nguồn phụ phẩm nông nghiệp dồi dào như vỏ cà phê, bã mía, thân cây ngô, kết hợp với chăn nuôi đại gia súc, hoàn toàn có thể tổ chức sản xuất phân bón hữu cơ, phân vi sinh ngay tại địa phương, giúp giảm từ 30–40% chi phí sản xuất cho người nông dân.
Hướng đi tất yếu cho tương lai nông nghiệp Sơn La
Trong thời gian tới, các cơ quan chức năng của tỉnh tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp hữu cơ. Trọng tâm là khuyến khích sản xuất và sử dụng vật tư đầu vào phục vụ nông nghiệp hữu cơ; hỗ trợ đầu tư hạ tầng bảo quản, chế biến; đẩy mạnh xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu nông sản hữu cơ Sơn La; đồng thời tăng cường truyền thông, nâng cao nhận thức của người tiêu dùng, từng bước hình thành thị trường ổn định, bền vững.
Phát triển nông nghiệp hữu cơ là quá trình lâu dài, đòi hỏi tầm nhìn chiến lược, lộ trình phù hợp và sự kiên trì của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và người dân. Nếu tận dụng tốt lợi thế, tháo gỡ kịp thời các rào cản và triển khai đồng bộ các giải pháp, nông nghiệp hữu cơ sẽ trở thành động lực quan trọng, góp phần nâng cao giá trị nông sản, bảo vệ môi trường sinh thái và hiện thực hóa mục tiêu phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thích ứng với biến đổi khí hậu theo định hướng Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Sơn La lần thứ XVI.
Yến Thao